A14-8VHXH1BaoAnh1482012155320789
Bai-dinh-trang-an

Lịch sử truyền thống

Giai đoạn trước năm 1992 (1945-1991)

  1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975

1.1. Ngành Tài chính Ninh Bình ra đời góp phần giữ vững, củng cố chính quyền và kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)

Ngày 25/8/1945, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Ninh Bình được thành lập và ra mắt trước hơn hai vạn đồng bào. Từ đó, ngành Tài chính Ninh Bình dần dần được hình thành và phát triển, ngày càng đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới mà Đảng và nhân dân giao phó.

Ngay sau khi mới thành lập, thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về việc tổ chức để nhân dân tự nguyện quyên góp ủng hộ chính quyền nhân dân, ngành Tài chính Ninh Bình đã tham mưu Tỉnh ủy và Ủy ban hành chính tỉnh Ninh Bình mở cuộc vận động đóng góp vào “Quỹ độc lập và Tuần lễ vàng” trong toàn tỉnh và trong 7 ngày từ 17-24/9/1945, nhân dân trong tỉnh đã đóng góp được 105 lạng vàng và 1.200.000 đồng. Năm 1946, nhân dân tỉnh Ninh Bình cũng đã ủng hộ cuộc kháng chiến ở Nam Bộ 213.000 đồng, Ủy ban hành chính tỉnh đã tiết kiệm chi tiêu về hành chính ủng hộ được 8.960 đồng. Năm 1948, nhân dân tỉnh Ninh Bình đã mua 2.977.700 đồng công phiếu kháng chiến. Năm 1949, nhân dân trong tỉnh đã hăng hái bán 913 tấn thóc cho Chính phủ, ủng hộ 1.380.381 đồng, 686 tạ thóc và 170 tấn gạo cho phong trào vận động ủng hộ mùa đông binh sỹ.

Ngày 01/6/1949, Ninh Bình thành lập Ban bao vây kinh tế địch, với nhiệm vụ lập kế hoạch đấu tranh với địch, tổ chức các trạm kiểm soát hàng hóa giao lưu giữa vùng tự do với vùng địch tạm chiến vận động nhân dân không dùng hàng xa xỉ của địch, tuyên truyền hàng nội hóa để đẩy mạnh kinh tế tự cấp, tự túc.

Năm 1951 là năm đầu tiên tỉnh Ninh Bình thực hiện chính sách thuế nông nghiệp. Để việc thu thuế nông nghiệp được tiến hành đúng chính sách, thu nộp đầy đủ, đúng thời gian, được công bằng. Đối với thuế công nghiệp, thương nghiệp và thuế hàng hóa, ngành thuế tỉnh nhà đã đảm bảo được nguyên tắc “động viên tài lực theo khả năng đóng góp của các ngành công thương”.

Để đáp ứng cho nhu cầu kháng chiến, công tác tài chính và tổ chức ngành Tài chính Ninh Bình dần dần được hình thành và phát triển gắn liền với mọi hoạt động trong tỉnh. Ngày đó, tổ chức được giao thực hiện nhiệm vụ tài chính đầu tiên là Văn phòng 2 của Ủy ban cách mạng lâm thời tỉnh, chịu trách nhiệm chuyên trách theo dõi tổng hợp hoạt động thu chi các hiện vật và tiền của nhân dân ủng hộ kháng chiến.

Tháng 8/1951, tại Văn phòng Tỉnh ủy có một bộ phận gồm 6 đồng chí chuyên lo giúp Tỉnh ủy theo dõi, chỉ đạo thực hiện tốt chính sách thuế nông nghiệp. Đó là những nhân tố, tiền đề cho việc xây dựng ngành Tài chính sau này.

Ngày 14/7/1951, Bộ Tài chính ban hành Nghị định số 54 quy định lại tổ chức Bộ Tài chính, trong đó quy định thành lập Ty Tài chính các tỉnh và phòng Tài chính các huyện. Tiếp đó, ngày 17/7/1951, Nghị định 63 của Bộ Tài chính ban hành việc thành lập Chi sở thuế của tỉnh.

Chi sở thuế vụ tỉnh Ninh Bình được thành lập vào đầu năm 1952, có 28 cán bộ được chia thành 4 phòng: Phòng Thuế hàng hóa, Phòng Kế toán và Phòng Văn thư. Cuối năm 1960, Chi sở Thuế vụ tỉnh Ninh Bình sát nhập vào Ty Tài chính Ninh Bình.

Ty Tài chính Ninh Bình được thành lập ngày 15/02/1952 tại chùa Bích Động với biên chế 11 người được chia làm 3 phòng: Phòng Ngân sách kế toán, phòng Thuế nông nghiệp và phòng Hành chính quản trị. Các tổ chức Đảng, đoàn thể của cơ quan dần dần được hình thành và phát triển.

1.2. Ngành Tài chính Ninh Bình phục vụ khôi phục kinh tế (1955-1957), cải tạo xã hội chủ nghĩa (1958-1960), thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa 5 năm lần thứ nhất (1961-1965)

Ngày 30/9/1954, thực dân Pháp đã rút khỏi địa bàn Ninh Bình – tỉnh được giải phóng sớm nhất khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Hòa trong không khí phấn khởi của hòa bình lặp lại, ngành Tài chính Ninh Bình đã góp phần vào công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa, tiến hành cải cách ruộng đất (1955-1957) thắng lợi.

Thực hiện chính sách khai hoang phục hóa, phục hồi kinh tế, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, Ty Tài chính Ninh Bình đã tạm ứng 20 triệu đồng cho nhân dân một số địa phương vay để mua nông cụ và trâu bò. Nhờ đó, đến cuối tháng 6/1954 toàn tỉnh đã khai hoang được 5.488 mẫu, đến tháng 9/1954, nhân dân đã khai hoang phục hóa được trên 90% diện tích hoang hóa. Ngành Tài chính Ninh Bình đã góp phần tích cực khôi phục phát triển công nghiệp quốc doanh, thủ công nghiệp và công nghiệp tư doanh, có kết quả tốt. Giá trị tổng sản phẩm công nghiệp quốc doanh năm 1955 đạt 437.855 đồng; công nghiệp tư nhân và thủ công nghiệp đạt 2.429.202 đồng.

Thực hiện kế hoạch khôi phục kinh tế (1955-1957) của Đảng và Nhà nước, Ninh Bình hoàn thành các nhiệm vụ kinh tế – xã hội cũng như nhiệm vụ thu chi tài chính của Đảng và Nhà nước đề ra. Tổng số thu chi ngân sách cũng như kế hoạch tài chính của địa phương năm 1957 so với năm 1955 đã tăng 94%, đáp ứng yêu cầu kế hoạch chi của địa phương.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 14 Ban chấp hành Trung ương Đảng (tháng 11/1958), Tỉnh ủy và Ủy ban hành chính tỉnh đã đề ra kế hoạch cụ thể thực hiện ở địa phương. Ngành Tài chính Ninh Bình trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao đã luôn luôn chủ động đáp ứng yêu cầu tạo mọi điều kiện thuận lợi để hoàn thành nhiệm vụ. Đặc biệt, trong phong trào xây dựng và phát triển hợp tác hóa nông nghiệp ở Ninh Bình, ngành Tài chính tỉnh nhà đã kịp thời, chủ động đáp ứng yêu cầu cần thiết tạo mọi điều kiện thuận lợi để thực hiện nhiệm vụ quan trọng đó.

Thực hiện Kế hoạch Nhà nước phát triển kinh tế văn hóa 5 năm lần thứ nhất (1961-1965). Trong hai năm đầu, ngành tài chính Ninh Bình chủ động phối hợp chặt chẽ với các ngành hữu quan tiếp tục tiến hành hoàn thành cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh và thủ công nghiệp. Đến tháng 12/1962, Ninh Bình đã tổ chức lại sản xuất cho 12 hộ tư sản và 18.437 lao động thủ công nghiệp, đạt tỷ lệ 92%.

Sau ba năm cải tạo xã hội chủ nghĩa trong tỉnh, tiếp đến kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1961-1965 được thực hiện, đã làm cho quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ngày càng được củng cố, hoàn thiện hơn, mở đường cho lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, chuẩn bị tiềm lực bước vào giai đoạn cách mạng mới – vừa sản xuất, vừa chiến đấu – thắng lợi.

1.3. Tài chính Ninh Bình phục vụ xây dựng xã hội chủ nghĩa và kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1965-1975).

Hội nghị Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Ninh Bình tháng 9/1965 đã đề ra nhiệm vụ công tác thương nghiệp – tài chính – ngân hàng: “Ra sức phát huy những thắng lợi đã giành được, kịp thời chuyển hướng tổ chức và hoạt động cho phù hợp với yêu cầu của tình hình mới”.

Thi hành chính sách động viên tài chính trong lĩnh vực nông nghiệp, ở Ninh Bình tổ chức mỗi hợp tác xã là một đơn vị thu thuế nông nghiệp đã đáp ứng tốt nhu cầu lương thực cho Nhà nước. Đối với lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp, thi hành chính sách thuế môn bài được bãi bỏ, các hợp tác xã, các tổ chức hợp tác của người riêng lẻ kinh doanh công thương nghiệp phải nộp thuế doanh nghiệp, thuế lợi tức doanh nghiệp, người buôn chuyến thì nộp thuế buôn chuyến. Ngoài ra, các cơ sở sản xuất những loại hàng hóa thì vẫn tiếp tục nộp thuế hàng hóa.

Thực hiện chế độ phân cấp quản lý tài chính, việc xây dựng và chấp hành ngân sách địa phương đã đạt được những tiến bộ trên nhiều mặt. Chính quyền và ngành Tài chính tỉnh đã có nhiều cố gắng, đi sâu vào hoạt động kinh tế, giúp đỡ các cơ sở sản xuất, tăng cường quản lý tìm ra các biện pháp giảm giá thành sản phẩm và phí lưu thông, chủ động khai thác tiềm năng của địa phương để phát triển kinh tế, tăng thu cho ngân sách.

Chặng đường lịch sử 10 năm (1965-1975) là thời kỳ có nhiều khó khăn phức tạp do Ninh Bình chịu thiệt hại to lớn trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ, song dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, ngành Tài chính Ninh Bình đã có nhiều cố gắng vươn lên, đóng góp tích cực có hiệu quả trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, cùng cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

  1. Giai đoạn từ năm 1976 đến năm 1991 (hợp nhất tỉnh Hà Nam Ninh)

Từ ngày 28/10 đến ngày 6/11/1975, tại thị xã Ninh Bình, Ban chỉ đạo hợp nhất hai tỉnh (do đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Nam Hà làm Trưởng Ban) đã mở hội nghị cán bộ nghiên cứu Nghị quyết 21 của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết 251 của Bộ Chính trị để quán triệt nội dung cơ bản của Nghị quyết, nhất là đối với chủ trương hợp nhất tỉnh trong giai đoạn cách mạng mới.

Việc hợp nhất hai tỉnh Nam Hà và Ninh Bình thành Hà Nam Ninh tạo điều kiện cho tỉnh mới trở thành một đơn vị kinh tế, kế hoạch, hành chính có quy mô thích hợp, với khu vực phân vùng kinh tế. Có công – nông – lâm – ngư nghiệp hỗ trợ lẫn nhau, có hệ thống giao thông, vận tải thuận tiện, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế quốc dân theo hướng đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.

Ngày 06/02/1976, bộ máy các cơ quan Đảng, chính quyền và đoàn thể tỉnh Hà Nam Ninh đã bắt đầu làm việc ở các trụ sở tại thành phố Nam Định. Ngành Tài chính Hà Nam Ninh đã có nhiều cố gắng, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mình phục vụ tốt trong quá trình thực hiện có kết quả.

Năm 1976, là năm tài chính Hà Nam Ninh phải vượt qua nhiều khó khăn. Nhu cầu chi tiêu phục vụ sản xuất nhất là sản xuất nông nghiệp và cải thiện đời sống hết sức to lớn. Song, với sự cố gắng nỗ lực của toàn ngành, nhiệm vụ năm 1976 của ngành tài chính đã được hoàn thành và hoàn thành vượt mức: Về tổng số thu ngân sách địa phương xong trước hạn định 15 ngày so với mức Trung ương giao đạt 105,8% và đạt 100% mức giao phấn đấu của tỉnh; về thuế công thương nghiệp cả khu vực tập thể và cá nhân nhiều huyện đã hoàn thành vượt mức kế hoạch thu.

Năm 1977, thực hiện nhiệm vụ công tác tài chính có thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn bởi đây là năm đầu tiên có sự thay đổi về chế độ phân công quản lý tài chính ngân sách, thu không đủ chi kéo dài 9 tháng liền đầu năm phải huy động toàn bộ vốn dự trữ, vốn kết dư ra để chi tiêu. Nhưng được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Tài chính và các cấp ủy Đảng, chính quyền và sự cố gắng của toàn ngành Tài chính Hà Nam Ninh nên mặc dầu có những khó khăn, nhiệm vụ thu chi ngân sách cả năm đã hoàn thành. Tổng số thu ngân sách Nhà nước đạt 104% kế hoạch Bộ giao, bằng 114,5% so với năm 1976. Thu ngân sách địa phương đạt 103,4% kế hoạch Bộ giao, bằng 108,7% so với năm 1976.

Năm 1978, do tình hình thiên tai, lũ lụt diễn biến phức tạp nên nhiệm vụ thu chi tài chính Hà Nam Ninh gặp nhiều khó khăn, tổng số thu ngân sách địa phương được 122.200.000 đồng, đạt 101,8% kế hoạch.

Từ năm 1979 trở đi, công tác tài chính Hà Nam Ninh đã có nhiều cố gắng đảm bảo kế hoạch thu chi hàng năm với với mức độ khá. Việc phân bổ vốn chỉ tiêu cho ngân sách xã được quan tâm hơn. Năm 1985 tổng số thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn Hà Nam Ninh được 313.800.000 đồng, đạt 89% so với kế hoạch trên giao.

Trong hai năm 1990 , 1991 ngành Tài chính Hà Nam Ninh đã cố gắng phấn đấu thực hiện nhiệm vụ kế hoạch thu chi ngân sách. Năm 1990, thu các khoản trên địa bàn được 78.098.000.000 đồng, cộng với số thu điều chỉnh do Trung ương trợ cấp: 29.020.000.000 tổng cộng là 107.118.000.000 đồng.

Năm 1991, nguồn thu có khá hơn. Tổng số thu cho ngân sách cơ bản đảm bảo yêu cầu chi tiêu. Kể cả các khoản chi đột xuất với tổng số thu, chi là 130 tỷ đồng.

Tháng 1/1992, Ban kiến thiết được thành lập có đồng chí chủ tịch UBND tỉnh và đồng chí cán bộ lãnh đạo tài chính tham gia cùng một số cán bộ chuyên trách tiến hành khảo sát cơ sở vật chất nhà cửa, thiết bị khu vực thị xã Ninh Bình để chuẩn bị cho việc tách tỉnh Hà Nam Ninh thành tỉnh Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình.

  1. Giai đoạn từ năm 1992 đến nay
  2. Giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2005 (Sở Tài chính – Vật giá)

Ngày 01/4/1992, tỉnh Ninh Bình được tái lập, ngành Tài chính Ninh Bình bước sang trang mới với nhiều khó khăn, thách thức. Song ngành Tài chính đã có nhiều cố gắng, nỗ lực vươn lên và đạt được những thành tựu quan trọng, bước đầu đã tích cực khai thác nguồn thu cho ngân sách đảm bảo các khoản chi tiêu trong kế hoạch ngân sách hàng năm.

Trước yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, nhiều đơn vị nằm trong ngành Tài chính tiếp tục được thành lập đã tạo nên sức mạnh hoàn thành nhiệm vụ công tác thu chi ngân sách địa phương trong giai đoạn này, như Cục Thuế tỉnh, Kho bạc Nhà nước tỉnh.

Sở Tài chính – Vật giá Ninh Bình được thành lập ngày 21/2/1992 theo Quyết định số 11/QĐUB của UBND tỉnh, tiền thân là Ty Tài chính Ninh Bình ra đời năm 1952. Ngay từ những ngày đầu chuẩn bị tái lập tỉnh Ninh Bình, Sở Tài chính – Vật giá tỉnh được Tỉnh ủy và UBND tỉnh giao trọng trách cùng với một số ngành hữu quan tiến hành nhiệm vụ tu sửa nơi làm việc, nơi ở và những điều kiện khác cho các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể của tỉnh tại thị xã Ninh Bình để bộ máy chính quyền tỉnh chính thức làm việc từ ngày 01/4/1992.

Trong giai đoạn từ 1992-1995, Bộ Tài chính đã dự thảo Luật Ngân sách mới trình Quốc hội. Trong khi chờ Bộ luật Ngân sách ban hành, chế độ lập, chấp hành ngân sách nhà nước, chế độ phân cấp ngân sách nhà nước được thực hiện theo Quyết định số 168/HĐBT ngày 19/5/1992 của Hội đồng Bộ trưởng và tiếp tục được bổ sung, sửa đổi thường xuyên hằng năm theo hướng dẫn của Bộ Tài chính. Việc sửa đổi, bổ sung chế độ phân cấp quản lý ngân sách theo hướng tăng quyền quản lý sử dụng ngân sách nhà nước cho cấp tỉnh, thành phố trong việc chỉ đạo các đơn vị kinh tế trên địa bàn tỉnh thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo và quyết toán ngân sách và nhất là đôn đốc hoàn thành nghĩa vụ thu nộp ngân sách nhà nước.

Việc đổi mới chính sách và cơ chế quản lý trong lĩnh vực ngân sách đúng thời điểm tái lập tỉnh Ninh Bình là thuận lợi lớn để Ninh Bình vừa kiện toàn bộ máy tổ chức vừa thay đổi cách thức, lề lối làm việc đã giúp tỉnh chủ động hơn trong việc điều hành, quản lý ngân sách và có những tác động tích cực đến việc thực hiện ngân sách nhà nước của tỉnh trong giai đoạn này.

Năm 1992, tổng thu ngân sách Nhà nước đạt 35,8 tỷ đồng, đạt 118% kế hoạch năm. Trong đó thu từ kinh tế trên địa bàn đạt 39 tỷ 788 triệu đồng và thu trợ cấp 27 tỷ 802 triệu đồng. Tổng chi ngân sách đạt 60 tỷ đồng. Trong giai đoạn này, sự mất cân đối thu và chi ngân sách của tỉnh ta là một vấn đề thực sự đáng quan tâm. Hằng năm, số thu từ kinh tế trên địa bàn tỉnh không đủ chi, phải nhận trợ cấp của ngân sách Trung ương năm 1992 là 41%, năm 1993 là 58%, năm 1994 là 62% so với tổng chi tiêu của ngân sách.

Đến năm 2001, tổng thu ngân sách đạt 155,75 tỷ đồng, năm 2002 đạt 171 tỷ đồng và đến năm 2003 đạt 324 tỷ đồng, tăng gấp gần 5 lần so với năm 1992.

Cùng với công tác thu ngân sách thì chi ngân sách giai đoạn sau năm 1995 cũng tăng theo nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Nếu năm 1992, chi ngân sách toàn tỉnh mới là 60 tỷ đồng thì đến năm 1996 đã là 242 tỷ, năm 2000 là 441 tỷ và đến năm 2005 con số này đã là 1.304 tỷ đồng. Trong điều kiện thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chưa đủ chi, Sở Tài chính Vật giá (nay là Sở Tài chính) đã phối hợp với các ngành thực hiện nhiều biện pháp như tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương, của các Bộ ngành và huy động nguồn tự đóng góp của nhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội địa phương.

Đồng thời, để đáp ứng yêu cầu công tác quản lý tài chính ngày càng nề nếp và có chất lượng, ngành Tài chính Ninh Bình đã khắc phục khó khăn, chăm lo đúng mức đến công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ để xây dựng đội ngũ cán bộ tài chính từ tỉnh đến cấp cơ sở cả về mặt số lượng và chất lượng, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của ngành trong giai đoạn mới.

Đến năm 2003, Sở Tài chính – Vật giá Ninh Bình chính thức đổi tên thành Sở Tài chính Ninh Bình

14

Về cơ cấu tổ chức, Sở Tài chính có Ban Giám đốc; 6 phòng chuyên môn; 1 đơn vị sự nghiệp và 1 doanh nghiệp nhà nước, bao gồm:

– Phòng Ngân sách;

– Phòng Văn xã;

– Phòng Tổ chức Hành chính;

– Phòng Tài vụ;

– Ban Thanh tra;

– Ban Vật giá;

– Trường Trung học Tài chính kế toán Ninh Bình;

– Công ty Xổ số kiến thiết.

2.Giai đoạn từ năm 2005 đến nay

Ở cấp tỉnh, Sở Tài chính, là cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân tỉnh, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài chính, ngân sách, giá cả ở địa phương với các nhiệm vụ cụ thể như cân đối thu chi ngân sách địa phương, quản lý ngân sách xã, phường, thị trấn; quản lý tài chính hành chính sự nghiệp, tài chính đầu tư, tài chính doanh nghiệp, quản lý giá và tài sản công, quản lý công tác kinh doanh phát triển xổ số kiến thiết và các dịch vụ về tư vấn tài sản và thẩm định giá….

Ở cấp huyện, Phòng Tài chính – Kế hoạch là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, có chức năng, nhiệm vụ là quản lý tài chính – kế hoạch, công tác giá cả, đăng ký giấy phép kinh doanh và một số nhiệm vụ khác.

Ở cấp xã, công tác quản lý tài chính do Ban Tài chính xã thực hiện.

Các cơ quan thu ngân sách trên địa bàn tỉnh bao gồm hệ thống các cơ quan: Cục Thuế tỉnh là cơ quan trực thuộc Tổng cục Thuế của Bộ Tài chính, thực hiện chức năng thu các loại thuế, phí và lệ phí trên địa bàn tỉnh. Ở cấp huyện, thành phố có các Chi cục thuế. Ở một số xã, thị trấn có các đội thu thuế. Trong những năm gần đây, Cục Thuế tỉnh tiến hành ủy nhiệm thu một số loại thuế, phí, lệ phí cho chính quyền cấp xã. Kho bạc Nhà nước tỉnh thuộc Kho bạc Nhà nước Trung ương của Bộ Tài chính……Hải quan.

Bước vào thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển kinh tế và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng như nông nghiệp nông thôn là rất lớn nhưng nguồn thu ngân sách trên địa bàn có hạn, tỉnh chưa tự cân đối nhu cầu về chi ngân sách để đáp ứng cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của địa phương ngày một lớn. Vì vậy, trong quá trình phát triển kinh – tế xã hội trong giai đoạn này, Sở Tài chính luôn thực hiện tốt vai trò là cơ quan tham mưu cho UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài chính, ngân sách, thuế, phí, lệ phí và thu khác của ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước, đầu tư tài chính, tài chính doanh nghiệp, kế toán, kiểm toán độc lập, giá cả và các hoạt động dịch vụ tài chính tại địa phương theo quy định, góp phần phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ đổi mới. Trong đó, đã tham mưu Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định nhiều biện pháp trong việc điều hành quản lý thu, chi ngân sách; huy động nguồn thu, đầu tư ngân sách cho các lĩnh vực phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ, chính sách thu hút đầu tư, khuyến công, đầu tư chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp, chính sách khuyến khích tài năng. Đồng thời, tăng cường đổi mới công tác quản lý tài chính tăng cường phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho các cấp ngân sách, thực hiện khoán chi hành chính, giao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp. Thực hiện tốt các chính sách xã hội đảm bảo đáp ứng nhu cầu chi của các ngành, các cấp theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước.

Lĩnh vực quản lý tài chính ngân sách

Trong giai đoạn này, kết quả thu ngân sách hằng năm tăng từ 5% đến 10% so với dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Chi ngân sách đảm bảo phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của các cấp, các ngành, đáp ứng yêu cầu và góp phần vào việc phát triển kinh tế của tỉnh. Ở thời kỳ 1992-1995, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên địa bàn tăng 13,3% so với trước thì con số này ở giai đoạn 1996-2000 là 9,6%; giai đoạn 2001-2005 tăng 13,1% và 5 năm sau (2006-2011) tăng tới 15,7%, mức tăng cao nhất kể từ khi tái lập tỉnh. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Sản xuất công nghiệp ngày càng phát triển, trở thành động lực chính để phát triển kinh tế với một loạt sản phẩm như quần áo may sẵn; hàng thêu; sản phẩm cói; thịt lợn, dứa, dưa chuột đông lạnh; xi măng; mì ăn liền; giày dép cao cấp có chất lượng tốt, giá cả cạnh tranh.

13

Cán bộ Phòng Tổng hợp Ngân sách họp triển khai nhiệm vụ

Thu ngân sách trên địa bàn tỉnh liên tục tăng qua các năm kể từ ngày tái lập tỉnh: Năm 1992, thu ngân sách đạt 35,8 tỷ đồng, năm 2001 là 155,7 tỷ đồng; đến năm 2005 thu tăng lên 650 tỷ đồng; năm 2010 là 3.085 tỷ đồng; năm 2014 là 3.482 tỷ đồng.”

Biểu tình hình thu, chi ngân sách giai đoạn 2005-2009

12

Đơn vị tính: Tỷ đồng

Nhiệm vụ chi ngân sách hàng năm tăng theo nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Năm 2001, chi ngân sách là 618,24 tỷ đồng, đến năm 2005, tổng chi ngân sách địa phương đạt 1.555 tỷ đồng tăng gần 3 lần; Năm 2010, tổng chi ngân sách đã là 6.876 tỷ đồng và con số này năm 2014 là 7.905 tỷ đồng. Trong đó: Chi đầu tư phát triển là 1.738 tỷ đồng, vượt 243% so với dự toán. Chi thường xuyên là 4,660 tỷ đồng, vượt 117% do với dự toán. Số vượt chủ yếu là nguồn ngân sách Trung ương bổ sung để thực hiện cải cách tiền lương, chi từ nguồn dự phòng ngân sách. Chi thường xuyên đã cơ bản đáp ứng nhiệm vụ của các ngành, các cấp và các đơn vị, đảm bảo kinh phí thực hiện các chính sách chế độ của nhà nước và của tỉnh, tăng cường thực hiện các chính sách an sinh xã hội và đảm bảo nguồn ngân sách để thực hiện các nhiệm vụ quan trọng, đột xuất phát sinh trong năm.

Biểu tình hình thu, chi ngân sách giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2014

11

Trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2014, bên cạnh các nguồn chi khác, chi cho việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn tỉnh cũng được quan tâm. Theo đó, các khoản chi thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia và chi thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ từ nguồn bổ sung có mục tiêu từ NSTW thực hiện luôn hoàn thành đạt 100% so dự toán. Tổng chi ngân sách cho các chương trình mục tiêu quốc gia trong giai đoạn từ 2010 đến 2014 là 758,234 tỷ đồng.

10

Cán bộ Phòng Quản lý Ngân sách huyện, xã

Công tác quản lý tài chính ngân sách được tăng cường, các khoản chi ngân sách được đảm bảo quản lý chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả. Quá trình phân bổ đã tập trung ưu tiên vốn cho đầu tư phát triển, phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội… Đồng thời, thực hiện có hiệu quả công tác quản lý các khoản thu chi ngân sách tại xã, phường, thị trấn, tổ chức triển khai kịp thời có hiệu qủa việc thực hiện chế độ quản lý kế toán ngân sách xã theo đúng luật ngân sách và chế độ quản lý thu, chi ngân sách xã và các quỹ chuyên dùng ở xã. Ngân sách xã đã từng bước được chấn chỉnh hoàn thiện và góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

9

Cán bộ Phòng Tài chính hành chính sự nghiệp

Công tác quản lý thu, chi ngân sách khối hành chính, sự nghiệp đạt nhiều kết quả với việc quản lý thu, chi cho 43 đơn vị dự toán cấp 1; 164 đơn vị dự toán cấp 3; 53 đơn vị thực hiện chế độ tài chính theo Nghị định 130/2005/NĐ-CP tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan Nhà nước và 112 đơn vị thực hiện theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP gồm 8 đơn vị tự đảm bảo kinh phí hoạt động, 68 đơn vị tự đảm bảo một phần và 36 đơn vị ngân sách đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động. Trong điều kiện nhu cầu chi rất lớn, nguồn ngân sách đảm bảo có hạn, công tác hướng dẫn, kiểm tra thu chi ngân sách cho khối hành chính sự nghiệp vẫn đảm bảo và được tiến hành thường xuyên. Trong đó, coi trọng việc hướng dẫn và tổ chức thực hiện chế độ công khai tài chính ngân sách nhà nước theo quy định. Kiểm tra, giám sát việc thực hiện chi tiêu và sử dụng ngân sách, biên chế, quỹ lương ở các cơ quan đơn vị hành chính, sự nghiệp của tỉnh quản lý.

Lĩnh vực quản lý Tài chính doanh nghiệp

Khi chuyển sang kinh tế thị trường, tỉnh Ninh Bình cũng thực hiện chủ trương chung của nhà nước là thực hiện việc sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, trước thực trạng doanh nghiệp nhà nước chậm đổi mới và còn nhiều tồn tại yếu kém, công nghệ sản xuất cũ, lạc hậu, giá thành sản phẩm cao, khả năng cạnh tranh thấp, trình độ quản lý ở một số DN còn hạn chế, nhiều lao động chưa qua đào tạo, một số doanh nghiệp công nợ tồn đọng kéo dài không có khả năng thanh toán, Sở Tài chính đã tham mưu cho Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh tập trung chỉ đạo thực hiện tốt công tác sắp xếp, đổi mới, phát triển các DNNN với các hình thức: Cổ phần hoá, giao, bán, khoán, cho thuê, phá sản, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chuyển thành cty TNHHMTV. Nếu như năm 1995, trên địa bàn tỉnh có 90 DNNN, trong đó có 30 DN trung ương, 60 DN địa phương thì đến năm 2001, các DNNN do địa phương quản lý chỉ còn 46 DN, năm 2010 chỉ còn 6 Cty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu và đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh còn 6 DNNN, trong đó có 03 công ty TNHH MTV 100% vốn Nhà nước và 03 công ty đã và đang tiến hành cổ phần hoá. Bên cạnh đó, còn có 3 doanh nghiệp và trên 250 HTX NN và HTX thuỷ sản được nhà nước thực hiện hỗ trợ kinh phí miễn thuỷ lợi phí cho người nông dân thông qua các đơn vị này theo chủ trương chính sách lớn của Đảng và Nhà nước.

8

Cán bộ Phòng Tài chính doanh nghiệp họp triển khai nhiệm vụ

Nhìn chung, các doanh nghiệp sau sắp xếp, chuyển đổi phần lớn ổn định quản lý sản xuất theo mô hình mới, duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn, người lao động yên tâm, tin tưởng vào đường lối đổi mới của Đảng, lao động nghỉ việc được giải quyết chế độ đầy đủ, kịp thời. Tài sản công nợ tồn đọng của doanh nghiệp được xử lý theo quy chế, góp phần lành mạnh tình hình tài chính doanh nghiệp, doanh nghiệp chủ động đầu tư máy móc thiết bị, tài sản, mở rộng phát triển sản xuất, kinh doanh, công tác quản lý được tăng cường, phát huy vai trò làm chủ của người lao động.

Lĩnh vực quản lý tài chính đầu tư xây dựng cơ bản

Công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản có nhiều đổi mới về phân cấp quản lý tài chính đầu tư xây dựng cơ bản. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực quản lý tài chính đầu tư. Tham mưu ban hành các chính sách về thu hút đầu tư, tham gia thẩm định các dự án đầu tư giúp UBND tỉnh thu hút các nhà đầu tư đủ năng lực đầu tư các dự án góp phần tăng thu cho ngân sách, giải quyết việc làm, phát triển kinh tế xã hội của địa phương

7

Cán bộ Phòng Đầu tư Xây dựng cơ bản

Công tác thẩm tra và trình duyệt quyết toán các dự án hoàn thành được thực hiện đúng quy định, đã tiết kiệm cho ngân sách nhà nước và các nguồn vốn khác hàng chục tỷ đồng mỗi năm. Đã thẩm tra, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt quyết toán 1.133 dự án, công trình, gói thầu với tổng giá trị chủ đầu tư đề nghị quyết toán là 3.792,706 tỷ đồng, giá trị thẩm tra: 3.733,851 tỷ đồng, giảm trừ so với số đề nghị quyết toán 58,855 tỷ đồng. Bên cạnh đó, đã hỗ trợ thẩm tra quyết toán cho các dự án cấp huyện, cấp xã quản lý làm cơ sở để cơ quan tài chính cấp huyện, cấp xã trình duyệt quyết toán theo quy định

Lĩnh vực quản lý giá và công sản

Công tác quản lý giá và quản lý tài sản công được quan tâm chú trọng. Ngành đã chủ động tham mưu cho UBND tỉnh triển khai thực hiện Pháp lệnh về giá; phối hợp chặt chẽ với các sở, ban, ngành tổ chức tốt việc kiểm tra giá bán một số hàng hóa, dịch vụ trên thị trường; theo dõi bám sát giá thị trường kịp thời nắm bắt các thông tin về giá tổng hợp báo cáo Bộ Tài chính và UBND tỉnh để có những biện pháp bình ổn giá cả thị trường. Trong giai đoạn này, ngành đã chủ trì phối hợp với các ngành có liên quan tham mưu UBND tỉnh ban hành các quyết định điều chỉnh, bổ sung giá đất tại một số khu vực trên địa bàn tỉnh, bổ sung sửa đổi chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng và hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất, góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, tham mưu có hiệu quả cho UBND tỉnh ban hành quy định về phân cấp quản lý tài sản nhà nước và tài sản được xác lập quyền sở hữu nhà nước trên địa bàn tỉnh.

6

Cán bộ Phòng quản lý Giá, công sản

Trong 10 năm, ngành đã trình UBND tỉnh quyết định thanh lý 295 tài sản (Trong đó: 52 phương tiện vận tải; 243 tài sản trên đất); Chủ trì xác định và trình UBND tỉnh phê duyệt giá khởi điểm để đấu giá quyền sử dụng đất cho nhân dân làm nhà ở đối với 3.640 lô đất; Thẩm định kế hoạch đấu thầu 270 gói thầu mua sắm tài sản, thiết bị trình UBND tỉnh phê duyệt với tổng giá trị 525 tỷ đồng; Số tiền tiết kiệm qua thẩm định là 2,5 tỷ đồng.

Hoạt động thanh tra, kiểm tra tài chính

Hoạt động thanh tra, kiểm tra tài chính tiếp tục được đổi mới về nội dung và phương pháp, có sự phối hợp chặt chẽ giữa Thanh tra Tài chính với Thanh tra Nhà nước và các cơ quan tài chính tránh sự chồng chéo, trùng lắp trong hoạt động thanh tra. Từ năm 2005-2014, Ngành đã tổ chức 93 cuộc thanh tra, qua công tác thanh tra kiểm tra đã phát hiện những sai phạm trong quản lý tài chính, quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, áp dụng sai đơn giá. Qua đó, đã kiến nghị xử lý về tài chính hơn 50 tỷ đồng; kịp thời phát hiện, ngăn chặn những sai phạm, lệch lạc trong công tác quản lý ngân sách góp phần tăng cường hiệu quả công tác quản lý tài chính ngân sách địa phương. Công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện kịp thời, đúng quy định của pháp luật, không để xảy ra tình trạng tồn đọng đơn thư không được xử lý, không có vụ việc khiếu kiện đông người

5

Cán bộ Phòng Thanh tra Sở giải quyết công việc

Trong 10 năm từ 2005 – 2014, đã tiếp nhận 125 đơn thư khiếu nại, tố cáo. Việc giải quyết đơn thư thấu tình, đạt lý và dứt điểm, tổ chức tốt việc tiếp công dân, giải quyết kịp thời đúng quy định vấn đề dân kiến nghị, khiếu nại. Công tác phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí tiếp tục được tăng cường theo chỉ đạo của cấp trên đáp ứng kịp thời yêu cầu tổng hợp báo cáo của các cơ quan liên quan.

Công tác cải cách hành chính, Tin học – Thống kê

Trong điều kiện hội nhập, công tác cải cách hành chính, tin học thống kê luôn được ngành chỉ đạo và thực hiện có hiệu quả. Trong đó, đã chú trọng các chương trình, đề án cải cách hành chính của tỉnh; duy trì thực hiện đề án cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”. Bộ phận “một cửa” hoạt động đã tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân đến giao dịch công tác; Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, tiếp tục áp dụng chương trình quản lý Ngân sách và Kho bạc (TABMIS) tại địa phương, hoàn thành Hệ thống quản lý chất lượng phù hợp tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008, thực hiện quy trình xử lý văn bản đến và văn bản đi của Sở trên phần mềm eoffice. Thực hiện tốt công tác đốc công, đốc việc do đó tình trạng quên việc, chậm việc được hạn chế;

Công tác tin học trong quản lý Tài chính ngân sách được triển khai có hiệu quả như: ứng dụng phần mềm quản lý văn bản và hồ sơ công việc tại các phòng chuyên môn thuộc Sở; Thực hiện Dự án tin học thuộc hệ thống cơ quan Tài chính địa phương; Xây dựng và ban hành các chỉ tiêu thống kê tin học, tài chính trong nội bộ Sở; tiếp nhận và triển khai các phần mềm quản lý chuyên ngành tại các phòng chuyên môn của Sở và phòng Tài chính kế hoạch các huyện, thị xã, thành phố.

4

Cán bộ Phòng Tin học thống kê

Thực hiện tốt công tác hành chính, quản trị, đảm bảo chế độ tài chính và luôn quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ công chức, viên chức và người lao động; thực hiện công khai trong chi tiêu hành chính, thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Góp phần đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của cơ quan.

Công tác pháp chế

Phòng Pháp chế được thành lập năm 2013 có chức năng tham mưu giúp lãnh đạo Sở thực hiện các nhiệm vụ quản lý Nhà nước bằng pháp luật trong phạm vi lĩnh vực Sở quản lý. Từ khi được thành lập, thực hiện sự hướng dẫn, quản lý, kiểm tra về công tác pháp chế của Sở Tư pháp, thực hiện hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ trong công tác pháp chế của Vụ Pháp chế – Bộ Tài chính, Phòng đã thực hiện xây dựng văn bản pháp luật; rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; kiểm tra và xử lý văn bản; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; theo dõi tình hình thi

hành pháp luật và kiểm tra thực hiện pháp luật ở cơ sở; kiểm soát thủ tục hành chính; bồi thường Nhà nước, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, công tác tham mưu về các vấn đề pháp lý và tham gia tố tụng và thực hiện một số nhiệm vụ khác do Giám đốc Sở phân công. Mặc dù mới thành lập, nhân lực còn ít, trong quá trình hoạt động Phòng còn gặp nhiều khó khăn nhưng các cán bộ của phòng luôn nỗ lực nêu cao tinh thần của người cán bộ, đảng viên, không ngừng học hỏi, nghiên cứu, thảo luận nâng cao trình độ, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Tham gia đóng góp ý kiến vào các luật mới ban hành cũng như dự thảo luật có chất lượng cao, tham mưu tổ chức học tập nghiên cứu, tập huấn, các chính sách chế độ mới về lĩnh vực quản lý tài chính ngân sách cho toàn thể đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý tài chính từ tỉnh đến xã và các đối tượng khác có liên quan. Đồng thời, tổ chức tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật bằng nhiều hình thức khác nhau như: Tập huấn, hội nghị chuyên đề, hội nghị lồng ghép, sao gửi văn bản, giao lưu, tọa đàm… cho các đối tượng liên quan. Hoạt động của Phòng đã góp phần quan trọng giúp cơ quan quản lý hiệu quả trong lĩnh vực, nhiệm vụ được giao, các hoạt động quản lý được đúng luật.

3

Cán bộ Phòng Pháp chế

Văn phòng Sở thực hiện tốt Công tác tham mưu về qui hoạch cán bộ phục vụ nhiệm vụ chính trị cơ quan

Văn phòng Sở Tài chính Ninh Bình là bộ phận thuộc Sở có chức năng giúp Giám đốc Sở quản lý công tác tổ chức, bộ máy, biên chế, hành chính, văn thư, lưu trữ, tổng hợp. Một trong nhiệm vụ quan trọng là tham mưu cho Lãnh đạo Sở về công tác về quy hoạch cán bộ, bổ nhiệm, sắp xếp tổ chức bộ máy cơ quan.

2

Cán bộ Văn phòng Sở

Để thực hiện tốt công tác quy hoạch, trước hết phải đánh giá đúng cán bộ trước khi đưa vào quy hoạch, tức là căn cứ vào tiêu chuẩn theo quy định của Đảng, quy định cụ thể của từng chức danh để đánh giá: Phẩm chất đạo đức lối sống; Năng lực thực tiễn; uy tín; sức khỏe, khả năng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ khi bố trí vào chức vụ.

Từ những tiêu chí trên, Văn phòng đã tham mưu cho Giám đốc Sở từng chức danh vị trí quy hoạch. Kết quả trong giai đoạn 2010 – 2015 đã quy hoạch: Cấp trưởng phòng 19 đồng chí; cấp phó phòng 20 đồng chí. Giai đoạn 2015 -2020 đã qui hoạch: Cấp trưởng phòng 21 đồng chí; cấp phó phòng 31 đồng chí. Kết quả quy hoạch được công khai tới toàn thể cán bộ công chức trong cơ quan. Công tác quy hoạch trong giai đoạn vừa qua là cơ sở để tập thể lãnh đạo, cấp ủy đảng theo dõi, đánh giá cán bộ. Đối với các đồng chí được quy hoạch là nguồn động viên để tiếp tục phấn đấu, rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Trong giai đoạn 2010 -2015 đã bổ nhiệm: 5 đồng chí giữ chức vụ Trưởng phòng; 13 đồng chí giữ chức vụ phó trưởng các phòng và tương đương. Những đồng chí được bổ nhiệm đã phát huy tốt khả năng của mình, lãnh đạo các phòng ban hoàn thành xuất sắc nhiệm, góp phần vào thành tích chung của Sở trong những năm qua.

Dưới sự chỉ đạo của Cấp ủy Đảng, sự lãnh đạo của tập thể Lãnh đạo Sở, sự phấn đấu nỗ lực của tập thể cán bộ công nhân viên trong phòng, trong những năm qua đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao và được cấp trên khen thưởng.

1

Hoạt động Tư vấn và dịch vụ tài chính công

Được thành lập từ năm 2004, trải qua 10 năm xây dựng và phát triển, Trung tâm Tư vấn Dịch vụ Tài chính công đã dần ổn định về bộ máy tổ chức, chủ động phối hợp với các ngành, các cơ quan, đơn vị tổ chức triển khai có hiệu quả các hoạt động về liên kết đào tạo, thẩm định giá, thẩm định phương án bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng và thẩm định quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn.

Trung tâm Tư vấn và dịch vụ

Cán bộ, viên chức Trung tâm Tư vấn và Dịch vụ Tài chính công

Từ năm 2005 – 2014, Trung tâm đã thẩm định 674 phương án hỗ trợ, bồi thường GPMB, cắt giảm 53.787 triệu đồng; thẩm định 1.115dự án quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản, cắt giảm 20.248 triệu đồng; Tổ chức đấu thầu, ký hợp đồng mua sắm các gói thầu với nhà thầu theo hình thức mua sắm tài sản tập trung đúng trình tự thủ tục quy định, thực hiện bàn giao đảm bảo kịp thời, đầy đủ số lượng, chất lượng và chủng loại xe ô tô cho các đơn vị sử dụng. Bên cạnh đó, hằng năm, Trung tâm đã tích cực chủ động phối kết hợp với các phòng chuyên môn của Sở mở được trên 49 lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức mới cho các đối tượng là cán bộ lãnh đạo, cán bộ tài chính, kế toán thuộc các cơ quan đơn vị trên địa bàn tỉnh, cho gần 6.500 lượt người. Phối hợp với phòng Tài chính – Kế hoạch cấp huyện và Học viện Tài chính mở 12 lớp bồi dưỡng về chế độ quản lý Tài chính, sử dụng phần mềm tin học, bồi dưỡng kế toán trưởng cho 850 lượt người; Phối hợp với Học viện Tài chính, Trường Đại học TC-QTKD Bộ Tài chính đã mở 11 lớp đào tạo trình độ Cao đẳng và Đại học, chuyên ngành kế toán và đã có 750 sinh viên tham gia các khóa học và tốt nghiệp.

 

Đăng ký dịch vụ công

THƯ VIỆN HÌNH ẢNH

  • Đồng chí Nguyễn Sinh Hùng – Bộ trưởng Bộ Tài chính thăm, làm việc với các đồng chí lãnh đạo Tỉnh và Sở Tài chính Ninh Bình năm 1998
  • Đồng chí Nguyễn Sinh Hùng – Bộ trưởng Bộ Tài chính chụp ảnh lưu niệm với lãnh đạo và cán bộ ngành Tài chính Ninh Bình năm 2002
  • Giám đốc Sở Tài chính tham gia Đoàn đại biểu Đảng bộ tỉnh Ninh Bình tại Đại hội Đảng toàn quốc khóa XI, tháng 01/2011

Truyền hình Ninh Bình

Lịch vạn niên

Google Maps